Giới thiệu chung về xã Quảng Lập

19.08.2025 09:58990 đã xem
Đã copy

Giới thiệu về xã Quảng Lập

Ủy ban Nhân dân xã Quảng Lập có trụ sở tại thôn Pró Kinh tế, số điện thoại liên hệ: 02633.639.000.

1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển

Xã Quảng Lập là xã miền núi, vùng cao theo quy định tại Điều 3a Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của ĐVHC và phân loại ĐVHC. Trước năm 1960 Nhân dân xã Quảng Lập là những người di cư từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đến lập nghiệp tại ấp Quảng Lạc xã Lạc Nghiệp (TT Dran). Năm 1960 do xây dựng thủy điện Đa Nhim, một bộ phận của thôn Quảng Lạc xã Lạc Nghiệp phải di dời vào vùng Ka Đô; năm 1965 do sự phát triển dân số được tách ra thành ấp Quảng Hiệp thuộc xã Thạnh Mỹ, năm 1976 đổi thành thôn Quảng Hiệp thuộc xã Ka Đô.

Năm 1988 Ban Thường vụ Huyện ủy đã có chủ trương xem xét việc chia tách, thành lập và đổi tên một số xã cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, huyện tách một thôn của xã Ka Đô và một thôn của xã Ka Đơn để thành lập xã Quảng Lập. Ngày 16/9/1989 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 135-HĐBT, về việc tách xã Ka Đô thành 02 xã: xã Ka Đô và xã Quảng Lập. Tháng 10/1989, Huyện ủy Đơn Dương ra Quyết định số 52-QĐ/HU về việc tách tổ chức cơ sở Đảng xã Ka Đô thành hai tổ chức cơ sở Đảng lấy tên là cơ sở Đảng xã Ka Đô và cơ sở Đảng xã Quảng Lập. Ngày 13/10/1989 xã Quảng Lập chính thức ra mắt thành lập Ủy ban nhân dân xã lâm thời. Năm 1998, xã Quảng Lập được phong tặng danh hiệu xã Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 24/10/2024 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1245/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2023 – 2025 theo đó nhập toàn bộ diện tích của xã Pró vào xã Quảng Lập và lấy tên xã mới là xã Quảng Lập. Đến ngày ngày 16/6/2025 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1671/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lâm Đồng năm 2025: xã Quảng Lập mới được thành lập trên cơ sở nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Ka Đơn và toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Quảng Lập.

Xã Quảng Lập nằm nằm phía Nam sông Đa Nhim, là một xã có nhiều lợi thế để phát triển sản xuất rau, củ quả; có điều kiện để phát triển du lịch tâm linh, sinh thái (nhà thờ Ka Đơn, hồ thủy lợi Proh, làng văn hóa Churu); phát triển cây công nghiệp: Mácca, quýt, cam cara; phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng; hệ thống giao thông chính các tuyến đường ĐT 729, các tuyến đường liên huyện, liên xã đã được đầu tư đồng bộ;… Chính các yếu tố trên sẽ là lợi thế để địa phương tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước ở địa phương.

2. Cơ cấu hành chính và đặc điểm nổi bật

Đơn vị hành chính xã Quảng Lập có diện tích tự nhiên 135,07 km2 (đạt 270,14% so với tiêu chuẩn), quy mô dân số 24.898 người (bằng 497,96% tiêu chuẩn), dân tộc thiểu số 10.248 người (đạt tỷ lệ 41,15%).  

Xã Quảng Lập sử dụng nguyên trạng trụ sở của UBND xã Quảng Lập và trụ sở của UBND xã Ka Đơn để làm việc; bao gồm Đảng ủy – Hội đồng nhân dân – Uỷ ban nhân dân  –  Ủy ban MTTQ Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã.

Ủy ban nhân dân xã Quảng Lập thành lập các phòng chuyên môn và tổ chức hành chính thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập và công tác của Ủy ban nhân dân xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; bao gồm 03 phòng chuyên môn và 01 tổ chức hành chính thuộc UBND xã Đơn Dương, cụ thể:

- Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã Quảng Lập.

- Phòng Kinh tế xã Quảng Lập.

- Phòng Văn hóa - Xã hội xã Quảng Lập.

- Trung tâm phục vụ hành chính công xã Quảng Lập.

3. Hệ thống tổ chức Đảng từ xã tới thôn

Đảng bộ xã Quảng Lập có 36 Chi bộ trực thuộc, trong đó 21 Chi bộ thôn, 04 Chi bộ lực lượng vũ trang (02 chi bộ Quân sự, 02 chi bộ Công an), 10 Chi bộ trường học và 01 chi bộ y tế. Tổng số đảng viên 431 đồng chí, trong đó, đảng viên chính thức 412 đồng chí, đảng viên dự bị 19 đồng chí; 19 đồng chí được nhận huy hiệu 30 năm tuổi đảng; 5 đồng chí được nhận huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và 01 đồng chí nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và 01 đồng chí nhận huy hiệu 55 tuổi đảng. Trong nhiệm kỳ qua, kết nạp mới 62 đảng viên, đến nay có 26/36 chi bộ có chi ủy (chiếm tỷ lệ 72,2%).

4. Tổ chức Thôn:

 Số lượng thôn: 21 thôn (09 thôn Đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên: Thôn Krăngọ, Pró Trong, Pró Ngó và Hamanhai I, Krăngchớ, thôn K Rái 1, K rái 2, Ka Đê, Ka Đơn).

+ Quy mô dưới 200 hộ có 06 thôn: Quảng Tân, Đông Hồ, Hamanhai I, Hamanhai II, K Rái 2, Hòa Lạc.

+ Quy mô từ 200 đến 350 hộ có 11 thôn: Quảng Hòa, Quảng Hiệp, Pró Kinh tế, Pró Ngó, Pró Trong, Krăngchớ, Krăngọ 2, Nghĩa Lộc, Ka Đê, K Rái 1, Sao Mai.

+ Quy mô từ 350 hộ đến 500 hộ có 03 thôn: Quảng Lợi, Krăngọ, Ka Đơn.

+ Quy mô từ 500 hộ trở lên có 01 thôn: Quảng Thuận.

- Tổ chức của thôn:

+ Số lượng tổ chức Đảng, đoàn thể: Các thôn đều có đủ tổ chức Đảng, đoàn thể: 21 Chi bộ, 21 Ban công tác mặt trận thôn, 21 Chi Hội Nông dân, 21 Chi Hội Phụ nữ, 21 Chi Đoàn thanh niên; 21 Chi hội Cựu chiến binh.

+ Số lượng người hoạt động không chuyên trách ở thôn: 63 người/21 thôn. Trong đó: Bí thư chi bộ thôn 21 người, Trưởng thôn: 21 người ( 01 người do Bí thư chi bộ kiêm nhiệm), Trưởng Ban công tác Mặt trận: 21 người (01 người do Bí thư chi bộ kiêm nhiệm).

+ Số lượng Phó trưởng thôn: 07 (đối với các thôn có trên 300 hộ dân).

+ Tình trạng nhà sinh hoạt cộng đồng ở thôn: 21 thôn đều có hội trường thôn (nhà sinh hoạt cộng đồng), là nơi diễn ra các buổi hội nghị, tiếp xúc cử tri, các buổi sinh hoạt của cả hệ thống chính trị cơ sở và toàn thể nhân dân nhằm tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiến thức khoa học, kỹ thuật; giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa lành mạnh trên địa bàn dân cư; là nền tảng cho công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, góp phần xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới, đô thị văn minh. Đây cũng chính là nơi để tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, các lễ hội hàng năm của khu dân cư. Thông qua việc tổ chức các hoạt động tại Nhà sinh hoạt cộng đồng, đời sống văn hóa tinh thần, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhân dân càng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tích cực lao động sản xuất đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

5. Văn hóa xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán.

Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng, triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả thiết thực. Địa phương đã thực hiện tốt việc gìn giữ, phục dựng và quảng bá các nét văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các hoạt động văn hóa – văn nghệ, ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần khơi dậy lòng tự hào và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng.

Hoạt động thông tin, tuyên truyền được thực hiện hiệu quả, kịp thời phục vụ các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội của địa phương. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được đẩy mạnh, được Nhân dân tích cực tham gia, thi đua sôi nỗi, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Hệ thống thiết chế văn hóa – thể thao cơ sở được đầu tư theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa; đến nay, toàn xã đã đạt chỉ tiêu có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân thể thao phục vụ sinh hoạt cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cơ sở.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người có công, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng yếu thế. Các chế độ trợ cấp, hỗ trợ xã hội được giải quyết đúng quy định. Thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo giảm. Chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm được chú trọng. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, chất lượng khám, chữa bệnh từng bước nâng cao. Công tác y tế dự phòng, kiểm soát dịch bệnh được thực hiện nghiêm túc. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được triển khai quyết liệt, linh hoạt, phù hợp theo từng giai đoạn; tiêm vắc xin được thực hiện đầy đủ, góp phần kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội có bước chuyển biến, từng bước mở rộng đối tượng tham gia, hướng tới mục tiêu an sinh bền vững.

Các mục tiêu phát triển toàn diện con người được quan tâm thực hiện, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Tình hình kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số chuyển biến tích cực; diện mạo nông thôn được cải thiện rõ nét. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm; giảm nghèo bền vững hơn so với giai đoạn trước. Chính sách đối với người có uy tín trong cộng đồng được thực hiện đầy đủ, kịp thời, phát huy vai trò nòng cốt trong vận động Nhân dân chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

6. Công tác dân tộc, tôn giáo

Công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo của Đảng và nhà nước được cấp ủy Đảng, Chính quyền quan tâm triển khai thực hiện, đồng thời tổ chức quán triệt đến cán bộ, Đảng viên và nhân dân, nhằm nâng cao nhận thức thống nhất các quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về công tác dân tộc, tôn giáo.

Về công tác dân tộc: Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2021 – 2025; đời sống vật chất và tinh thần của các đồng bào dân tộc thiểu số ổn định và có bước phát triển.

Về công tác tôn giáo: Trong giai đoạn 2020 - 2025 Cấp uỷ Đảng, Chính quyền địa phương đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng đồng thời chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo, các nghị định của Chính phủ về công tác tín ngưỡng, tôn giáo. Các tôn giáo đi vào nề nếp và phù hợp với pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng; đồng thời động viên mọi chức sắc, tín đồ sống “Tốt đời, đẹp đạo”.

7. Hệ thống giao thông, bưu điện, truyền thông

- Hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã đã được quan tâm đầu tư phát triển, hệ thống giao thông nông thôn được quan tâm mở rộng, các công trình thủy lợi, hệ thống kênh mương trên địa bàn xã được kiên cố hóa, hạ tầng nông thôn phát triển đồng bộ, cơ sở vật chất, trang thiết bị lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa ngày càng được hoàn thiện và từng bước được nâng cao. Bước đầu đã huy động được nguồn lực xã hội để cùng nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đến nay các tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn đều được nhựa hóa, bê tông hóa và được bảo trì, tu dưỡng hàng năm đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân.

Tin tức khác